KIẾN GIANG – DÒNG SÔNG CHỞ KÝ ỨC XỨ LỆ

28-08-2026 16:05

Đã hơn bốn mươi năm trôi qua, nhưng mỗi khi tháng Tám sắp cạn, tôi vẫn có cảm giác đâu đó trong tâm tưởng còn vang lên tiếng mõ năm xưa. Ký ức của một đứa trẻ về quê hương khi ấy rất đỗi giản dị. Đó là những buổi đi bộ qua cánh đồng lúa trải dài dưới nắng, con đường nhỏ men theo bờ ruộng, xa xa là dòng Kiến Giang lấp loáng. Gió từ phía sông thổi lên mang theo mùi nước, mùi bùn non và mùi rơm rạ. Đôi lúc, từ một xóm nào đó bên kia đồng vọng lại một câu Hò khoan, lúc rõ, lúc mờ, ngân một đoạn rồi tan vào gió. Khi ấy chúng tôi đâu biết đó là di sản hay văn hóa; chúng tôi chỉ biết đó là những âm thanh quen thuộc của quê mình.

Náo nức nhất vẫn là sáng 2 tháng 9. Từ rất sớm, những con đường dẫn về Kiến Giang đã đông nghịt người. Người từ các làng kéo về, người đi xa trở lại, trẻ con ríu rít chạy theo cha mẹ. Cờ đỏ bay trước những mái nhà, tiếng gọi nhau vọng từ bờ này sang bờ kia, còn trên mặt sông, những chiếc thuyền dài nằm im, như đang giữ lại tất cả sức lực để chờ một tiếng hiệu lệnh. Trong mắt một đứa trẻ, tôi có cảm giác như hôm ấy cả xứ Lệ đều tụ về bên dòng sông để đón một ngày hội lớn của quê hương.

Tắm sông Kiến Giang

Rồi tiếng mõ vang lên. Những mái chèo đồng loạt bổ xuống nước, mặt Kiến Giang đang yên bỗng trắng xóa hai bên mạn thuyền. Những chiếc thuyền dài lao về phía trước trong tiếng mõ thúc dồn, tiếng hò và tiếng reo của hàng nghìn người đứng kín hai bờ. Lũ trẻ chúng tôi chạy dọc theo bờ sông, vừa chạy vừa hét đến khản giọng, ngây thơ tin rằng nếu mình hô to hơn một chút, chạy nhanh hơn một chút thì thuyền làng mình dưới kia cũng sẽ đi nhanh hơn một chút.

Ngày ấy tôi chỉ biết vui. Mãi sau này, khi đã đi qua nhiều vùng đất, nhìn thấy nhiều dòng sông và trở lại với quê hương bằng cái nhìn của một người trưởng thành, tôi mới hiểu rằng những ký ức tưởng như rời rạc ấy thực ra đều được nối với nhau bởi một dòng chảy. Đó là dòng Kiến Giang.

Môt gốc Lệ Thủy

Muốn hiểu phần nào Lệ Thủy, có lẽ phải bắt đầu từ nước. Từ phía Trường Sơn, những dòng nước tìm đường xuống đồng bằng, đi qua ruộng lúa, làng mạc, bến sông rồi xuôi về vùng phá Hạc Hải và hệ thống Nhật Lệ. Bao đời nay, người xứ Lệ dựng làng theo dòng nước, làm ruộng nhờ nước, đi lại trên nước và cũng bao lần phải chống chọi với nước. Dòng sông đem phù sa về cho đồng ruộng, nuôi những mùa lúa và những xóm làng ven bờ, nhưng vào mùa mưa, nước cũng có thể dâng lên rất nhanh, tràn qua sân, qua ngõ, có khi lên tận mái nhà.

Sống lâu bên một dòng sông vừa hiền hòa vừa dữ dội như thế, con người cũng dần hình thành một cách sống. Họ biết chịu đựng trước thiên tai, biết thích nghi với những đổi thay của tự nhiên và, quan trọng hơn, biết dựa vào nhau khi gian khó. Có lẽ vì vậy mà tính cộng đồng trở thành một nét rất sâu trong đời sống của người xứ Lệ, và điều đó hiện lên rõ nhất trên những con thuyền mỗi mùa bơi đua.

Một con thuyền dài không thể về đích chỉ nhờ một người khỏe. Hàng chục con người phải cùng nhìn về một hướng, cùng nghe một tiếng mõ, cùng đưa mái chèo xuống nước trong một nhịp. Người ngồi trước, người ngồi sau, người mạnh, người yếu, tất cả phải hòa vào nhau để con thuyền thành một khối. Chỉ cần vài mái chèo lạc nhịp, con thuyền sẽ khác.

Bởi vậy tôi càng lớn càng thấy hai chữ người quê mình thường nói thật hay: “thuyền làng mình”. Người nói có thể chưa từng cầm một mái chèo, có thể là một bà mẹ đứng bên bờ sông, một cụ già, một đứa trẻ hay một người con của làng đang sống ở nơi rất xa. Nhưng khi đã gọi là “thuyền làng mình”, nghĩa là trong lòng họ đã đặt mình vào con thuyền ấy. Một chiếc thuyền chỉ chở vài chục tay chèo, nhưng phía sau nó là niềm tự hào của cả một làng.

Đua trên sông Kiến Giang

Bơi đua trên Kiến Giang vì thế chưa bao giờ chỉ là chuyện thắng hay thua. Từ xa xưa, cư dân nông nghiệp nơi đây đã tổ chức bơi đua với ước vọng mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, con người khỏe mạnh. Sau Cách mạng Tháng Tám, đến ngày 2 tháng 9 năm 1946, hội bơi đua toàn vùng được tổ chức để mừng ngày Độc lập. Từ đó, một tập tục lâu đời của làng quê gặp một sự kiện lớn của dân tộc, rồi hai dòng ký ức ấy hòa vào nhau tự nhiên đến mức ngày 2 tháng 9 dần trở thành một ngày rất riêng trong tâm thức người Lệ Thủy: Tết Độc lập.

Có lẽ hiếm nơi nào lịch sử của đất nước lại đi vào đời sống làng quê bằng một hình ảnh gần gũi đến vậy. Ngày Độc lập không chỉ hiện diện trong những trang sách hay những buổi lễ trang trọng, mà còn hiện diện trên con thuyền của làng mình, trong tiếng mõ thúc trên sông, trong tiếng reo của cha mẹ, anh em, hàng xóm và trong niềm háo hức của những đứa trẻ chạy dọc bờ Kiến Giang.

Nhưng Kiến Giang không chỉ có tiếng mõ và những mái chèo. Dòng sông ấy còn có một âm thanh khác, mềm hơn, sâu hơn và cũng bền bỉ qua nhiều thế hệ: Hò khoan Lệ Thủy. Hò khoan không sinh ra dưới ánh đèn sân khấu. Nó sinh ra trên đồng ruộng, bên dòng sông, trong những buổi lao động và những cuộc giao duyên. Một người cất lên, người khác đáp lại. Trong câu hò có tình yêu, nỗi nhớ, sự hóm hỉnh, kinh nghiệm sống và cả cách con người đối đãi với nhau.

Tôi vẫn nghĩ rằng nếu bơi đua là sức mạnh của xứ Lệ thì Hò khoan là tiếng lòng của vùng đất ấy. Một bên là mái chèo, một bên là câu hò; một bên cần nhiều người cùng một nhịp, một bên cần người xướng và người đáp. Cả hai đều không thể tồn tại nếu chỉ có một người. Phía sau chúng là cùng một nền tảng văn hóa: con người sống trong cộng đồng, gắn với làng xóm, với dòng sông và với nhau.

Có lẽ từ những mùa nước, những cánh đồng, những con thuyền và những câu hò ấy mà tính cách người xứ Lệ cũng dần thành hình: mộc mạc nhưng sâu sắc, mạnh mẽ mà nặng tình, chịu thương chịu khó và đặc biệt coi trọng nghĩa làng, tình xóm. Trên vùng đất ấy còn lắng lại những lớp sâu của lịch sử. Đây cũng là quê hương của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người trước khi trở thành một vị tướng được thế giới biết đến cũng từng là một cậu bé lớn lên bên Kiến Giang, giữa ruộng đồng, sông nước và nếp sống của một làng quê Lệ Thủy.

Càng đi xa, tôi càng thấy khó có thể tách riêng từng điều khi nói về quê mình. Không thể nói về bơi đua mà quên dòng sông đã sinh ra nó. Không thể nói về Hò khoan mà quên những cộng đồng đã cất lên câu hò qua bao thế hệ. Cũng không thể nói về lịch sử mà thiếu những làng quê, ruộng đồng và những con người bình thường đã sống qua những năm tháng lịch sử ấy. Tất cả cùng đan vào nhau, tạo thành một không gian văn hóa trải dọc theo dòng Kiến Giang.

Ở đó có Trường Sơn phía đầu nguồn, có những cánh đồng mở rộng về đồng bằng, có làng quê nằm dọc hai bờ sông, có bơi, có đua, có Hò khoan, có những mùa lũ và những mùa lúa chín. Ở đó có lịch sử của đất nước hòa vào ký ức của từng làng, và có những con người dù đã đi rất xa vẫn mang theo trong mình một phần dòng sông quê.

Kiến Giang xứ Lệ

Bởi quê hương đôi khi không hiện về bằng một địa danh rõ ràng. Nó có thể chỉ là tiếng mái chèo đập xuống nước, tiếng mõ thúc từ một con thuyền, một câu Hò khoan vọng từ phía bên kia sông, mùi bùn non sau một trận mưa hay một cánh đồng cuối tháng Tám. Đôi khi, giữa một thành phố rất xa, chỉ cần nghe ai đó nói “sắp 2 tháng 9 rồi”, là cả một miền ký ức tưởng đã nằm yên bỗng trở về.

Năm tháng đã trôi qua. Những đứa trẻ từng chạy dọc bờ Kiến Giang ngày ấy giờ đã trưởng thành. Có người vẫn ở lại quê, có người đã đi rất xa. Có những người cha, người mẹ từng dắt chúng tôi ra bờ sông xem bơi năm nào nay cũng không còn nữa. Đường làng rộng hơn, nhà cửa nhiều hơn, những bến sông cũng đã khác xưa, nhưng Kiến Giang vẫn chảy, Hò khoan vẫn còn người xướng người đáp, và mỗi mùa tháng Chín, những con thuyền vẫn lại xuống nước.

Có lẽ đó mới là ý nghĩa sâu xa nhất của hai chữ di sản. Di sản không chỉ sống khi được ghi tên trong một danh mục, mà sống khi một đứa trẻ vẫn biết làng mình có thuyền, khi một người trẻ nghe một câu Hò khoan và nhận ra tiếng quê mình, khi một người đi xa vẫn mong trở về vào ngày 2 tháng 9.

Và đẹp hơn cả, có lẽ là một buổi sáng tháng Chín nào đó bên Kiến Giang, một người ông chỉ xuống dòng sông, kể với đứa cháu rằng ngày nhỏ ông cũng từng chạy theo thuyền làng mình như thế. Đứa trẻ hôm nay có thể chưa hiểu hết câu chuyện, cũng như chúng tôi ngày xưa đâu hiểu hết những gì đang diễn ra quanh mình. Nó chỉ nhớ tiếng mõ, những mái chèo, dòng sông đông nghịt người và niềm vui khi thuyền làng mình lao qua trước mắt.

Rồi nhiều năm sau, khi đã đi xa, có thể nó cũng sẽ bất chợt nghe những âm thanh ấy trở về từ một nơi rất sâu trong ký ức. Và khi đó nó mới hiểu rằng Kiến Giang chưa bao giờ chỉ là một dòng sông chảy qua Lệ Thủy.

Dòng sông ấy còn chảy qua ký ức của những người xứ Lệ, từ thế hệ này sang thế hệ khác, để dù đi đâu, cuối cùng trong lòng mỗi người vẫn còn một con đường dẫn về quê.

Tuệ Minh 

Comments

Comments (Total 0)

Related Articles